TRUNG TÂM GIA SƯ GLORY    -    TRUNG TÂM UY TÍN TẠI HẢI PHÒNG.    ĐỊA CHỈ: NGÕ 275 ĐÔNG KHÊ, NGÔ QUYỀN, HẢI PHÒNG

Bản chất, bộ máy nhà nước phong kiến như thế nào?

Thứ tư - 27/10/2021 05:57
Trong lịch sử loài người đã tồn tại nhiều kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước Tư sản, nhà nước XHCN. Trong nội dung bài viết, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu Kiểu nhà nước thứ 2, nhà nước Phong kiến. Cách tiếp cận trên 3 phương diện: Bản chất nhà nước, chức năng nhà nước và Bộ máy nhà nước các bạn nhé
Nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến
1. Bản chất nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến ra đời vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ, khi quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ bắt đầu kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa của nô lệ nổ ra liên tiếp làm lung lay chế độ chiếm hữu nô lệ, và hình thái kinh tế – xã hội phong kiến đã hình thành và thay thế hình thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ.
Do điều kiện lịch sử của mỗi nước là khác nhau nên sự phát triển của nhà nước phong kiến ở các khu vực cũng khác biệt. Chẳng hạn, ở châu Âu, nhà nước phong kiến hình thành trên sự sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ. Nhưng ở Châu Á, như Mông Cổ, Triều Tiên,…thì nhà nước phong kiến là nhà nước đầu tiên của các dân
tộc này.
Xét về mặt bản chất nhà nước, ta cũng chia theo 2 thuộc tính: Tính giai cấp và tính xã hội.

a. Tính giai cấp.

Trong chế độ phong kiến có hai giai cấp cơ bản là và địa chủnông dân (ở phương Tây thường gọi là lãnh chúa và nông nô), ngoài ra còn có tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp thị dân. Ruộng đất nằm trong tay địa chủ và lãnh chúa. Phương thức bóc lột đặc trưng là thu địa tô của nông dân do người nông dân không có tư liệu sản xuất.  Chế độ kinh tế của nhà nước phong kiến được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu về đất đai của giai cấp địa chủ phong kiến. Tuy nhiên, khác với nhà nước chủ nô,  ở nhà nước phong kiến, giai cấp địa chủ phong kiến không có quyền sở hữu đối với nông dân, chỉ có quyền sở hữu tư liệu sản xuất là đất đai. Thân phận và địa vị của người nông dân cũng được nâng cao hơn so với người nô lệ khi học có một số các quyền riêng như kết hôn...
quan minh bat bo cuop boc nhan dan ta tranh ve 1
Nhà nước phong kiến có 2 giai cấp cơ bản là Địa chủ, phong kiến và nông dân

Nhà nước phong kiến chuyên chế ở Phương Tây và Phương Đông có sự khác biệt đáng kể.
- Ở phương Tây, chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển triệt để từ thời chủ nô.
Trong thời phong kiến, chế độ tư hữu ruộng đất được phát triển lên mức cao hơn gọi là các lãnh địa. Giai đoạn đầu của chế độ phong kiến phương Tây biểu hiện theo hình thức phân quyền cát cứ, tức là quyền lực của các lãnh chúa rất lớn, các chủ lãnh địa này tương đối độc lập, sở hữu ruộng đất và sở hữu quân đội riêng. Giai đoạn sau, nhà nước phong kiến phương Tây mới chuyển sang hình thức quân chủ trung ương tập quyền, quyền lực tối cao  thống nhất nằm trong tay Hoàng đế hoặc vua.
lanh chua
Lãnh chúa phương Tây và nông nô

Thời kỳ đầu, người nông dân bị mất ruộng và phải lệ thuộc đất vào địa chủ, phong kiến… Địa chủ, phong kiến là những người có đất nhưng không trực tiếp canh tác mà cho nông dân thuê đất cày cấy và thu về địa tô. Mức địa tô nhìn chung là tương đối nặng nề. Bên cạnh đó, nhà thờ thiên chúa giáo cũng chiếm hữu nhiều đất đai lập thành lãnh địa lớn, các vị linh mục, thầy tu cũng là những địa chủ phong kiến lớn nhỏ khác.
- Ở phương Đông, chế độ ruộng đất không thuần nhất như ở phương Tây mà quyền sở hữu ruộng đất thuộc về nhà Vua (tức là nhà nước), đồng thời đối với ruộng đất tư nhân, vua cũng có quyền sở hữu tối cao. Nhà nước đem ruộng đất thuộc sở hữu công ban cấp cho quan lại làm bổng lộc và cho nông dân cày cấy. Khi lực lượng sản xuất phát triển, ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân bắt đầu hình thành và phát triển thành sở hữu của địa chủ, của cơ sở tôn giáo,…
Nói tóm lại, ở nhà nước phong kiến phương Tây, ruộng đất hầu như thuộc sở hữu tư nhân (lãnh chúa) thì ở phương Đông tồn tại song song sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân (chủ yếu là địa chủ phong kiến).
So với nô lệ, người nông dân trong xã hội phong kiến đã có sở hữu riêng tuy không lớn. Đây là điểm tiến bộ của nhà nước phong kiến so với nhà nước chủ nô.
Nhưng trong xã hội phong kiến vẫn tồn tại hai mối quan hệ giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, đó là giữa nhà nước và nông dân, giữa địa chủ và tá điền. Quyền lực của nhà nước phong kiến tập trung chủ yếu vào việc đàn áp và bóc lột người dân lao động.

b. Tính xã hội.
 Tính xã hội, nhà nước phong kiến là đại diện cho toàn thể xã hội, nên sứ mệnh của nhà nước phong kiến là tổ chức và quản lý các mặt của đời sống xã hội. So với nhà nước chủ nô, tính xã hội của nhà nước phong kiến rõ nét hơn, nhà nước đã quan tâm nhiều đến việc giải quyết những vấn đề chung cho toàn xã hội. Do vậy, các hoạt động kinh tế xã hội của nhà nước cũng thiết thực hơn.

2. Chức năng của Nhà nước Phong kiến

Nhà nước phong kiến cũng có các chức năng cơ bản như: Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
a. Chức năng đối nội

- Bảo vệ, củng cố và phát triển phương thức sản xuất phong kiến 

Trong phương thức sản xuất phong kiến, nông nghiệp là cơ sở tồn tại cho cả xã hội nên ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng và là chủ yếu.
Vì thế, các nhà nước phong kiến ra sức củng cố và bảo vệ sở hữu phong kiến về ruộng đất. Bằng nhiều hình thức khác nhau, nhà nước phong kiến bảo vệ sự độc quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, phong kiến. Ở phương Tây, nhà nước quy định chặt chẽ quyền sở hữu tư nhân của các lãnh chúa phong kiến về ruộng đất thông qua chế độ đẳng cấp.Ở phương Đông, sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc về nhà nước, nhưng thực chất quyền sở hữu ruộng đất nằm trong tay giai cấp phong kiến mà đứng đầu là nhà vua.
Các nhà nước phong kiến đều sử dụng pháp luật để củng cố và bảo vệ quyền sở hữu về ruộng đất của giai cấp phong kiến. Thông qua pháp luật, nhà nước phong kiến trói chặt người nông dân vào ruộng đất của địa chủ, phong kiến. Nông dân ở các nước đều phải chịu cảnh lao dịch nặng nề qua các hình thức tô thuế do giai cấp phong kiến đặt ra (gồm tô tiền, tô hiện vật, tô lao dịch).

- Chức năng thứ hai, đàn áp nông dân và những người lao động bằng những phương tiện tàn bạo.
Do sự áp bức, bóc lột hà khắc của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động, trong chế độ phong kiến thường xuyên nổ ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nhân dân lao động chống lại ách áp bức của giai cấp phong kiến. Để duy trì địa vị thống trị của mình, nhà nước phong kiến đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nhân dân lao động bằng bạo lực quân sự.
phuong tay
Hình phạt của lãnh chúa Phương Tây đối với nông nô

Trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến (giai đoạn nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ), các lãnh chúa có quân đội riêng thực hiện chức năng cảnh sát và xét xử. Các lãnh chúa có quyền đánh đập, tra tấn nông dân trong lãnh địa của mình trong trường hợp họ chống đối. Trong trường hợp cần thiết, nhà nước phong kiến và các lãnh chúa cùng phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong việc đàn áp sự phản kháng của nông dân.
Chuyển sang thời kỳ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền bộ máy đàn áp của nhà nước phong kiến càng trở nên phát triển, chức năng này càng được nhà nước phong kiến thực hiện triệt để hơn, ví dụ các cuộc khởi nghĩa của nông dân
như: khởi nghĩa Xắc xông ở Pháp, khởi nghĩa Sơn Thành, Hoàng Sào ở Trung Quốc, khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu ở Việt Nam đều bị nhà nước phong kiến ở các nước đó đàn áp dã man.

- Nô dịch về tư tưởng
+ Cùng với việc thực hiện các hoạt động bạo lực vật chất để duy trì địa vị thống trị của mình, nhà nước phong kiến còn đàn áp và nô dịch nông dân và nhân dân lao động về mặt tư tưởng, áp đặt hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến cho toàn xã hội. Các nhà nước phong kiến dù phương Đông hay phương Tây, nhìn chung đều sử dụng hệ tư tưởng tôn giáo và tổ chức tôn giáo phục vụ cho mục đích nô dịch tư tưởng. Ở châu Âu thời kỳ trung cổ, giáo hội và những quy tắc của nó đã chi phối toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần của xã hội. Nhà nước phong kiến đã kết hợp với giáo hội, lợi dụng tôn giáo sáp nhập quyền lực tôn giáo với quyền lực nhà nước để nô dịch nhân dân lao động. Nhà nước phong kiến cho phép toà án giáo hội can thiệp vào cả những lĩnh vực không thuộc phạm vi tôn giáo, sử dụng sức mạnh bạo lực để đàn áp, bức hại những người có tư tưởng tiến bộ.
Ở phương Đông, các nước như Trung Quốc, Việt Nam... có thời kỳ Phật giáo được coi là quốc giáo. Ở những thời kỳ này tầng lớp tăng lữ được coi là tầng lớp trí thức, được tham gia vào công việc chính trị, có những người nắm các trọng trách trong bộ máy nhà nước, như nhà sư Từ Đạo Hạnh và sư Thảo Đường thời Lý.
o Nhìn chung, nhà nước phong kiến đã kết hợp giữa thần quyền và thế quyền để nô dịch nhân dân lao động về mặt tư tưởng, tuyên truyền và áp đặt cho nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác hệ tư tưởng duy tâm mang đậm màu sắc tôn giáo.
o Ngoài ra, nhà nước phong kiến còn tiến hành những hoạt động công cộng nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội như: ban hành chính sách quản lý đất đai, chính sách tiền tệ, làm đường, làm thuỷ lợi... Tuy nhiên, hoạt động này chưa thường xuyên và rộng khắp trong các nhà nước phong kiến mà chỉ xuất hiện ở từng quốc gia cụ thể vào từng thời kỳ cụ thể.

b. Chức năng đối ngoại

· Thứ nhất, tiến hành chiến tranh xâm lược o Chiến tranh được coi là phương tiện phổ biến để nhà nước phong kiến giải quyết các mâu thuẫn, mở rộng lãnh thổ, mở rộng quyền lực và làm giàu bằng tài nguyên, của cải của các quốc gia khác.
o Trong thời kỳ cát cứ, mỗi lãnh chúa phong kiến có quân đội riêng, có quyền tuyên chiến với các lãnh chúa phong kiến khác ở trong và ngoài nước (trừ tuyên chiến với vua hoặc quốc vương của mình). Khi vua hoặc quốc vương của mình tiến hành chiến tranh, lãnh chúa phong kiến có nghĩa vụ phải mang quân đến chi viện.
o Tới thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, chức năng này được các nhà nước phong kiến tiến hành thường xuyên hơn nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia, điều này dẫn đến tình trạng các nhà nước phong kiến thường xuyên ở trong tình trạng chiến tranh.
Các cuộc chiến tranh thời phong kiến thường kéo dài liên miên, và có tính chất hủy diệt (giết sạch, đốt sạch) gây tổn hại rất lớn về người và của cho nhân dân.

· Chức năng đối ngoại thứ hai là “Phòng thủ đất nước”

o Các nhà nước phong kiến dù lớn hay nhỏ đều luôn đứng trước nguy cơ bị các nhà nước khác xâm lược. Vì thế, cùng với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các nhà nước phong kiến đều thực hiện các công việc liên quan đến bảo vệ đất nước như: xây dựng pháo đài, thành luỹ, xây dựng quân đội thường trực... để phòng thủ đất nước.
o Để bảo vệ quyền, lợi ích của quốc gia, nhà nước phong kiến còn thực hiện nhiều hình thức và chính sách ngoại giao với các quốc gia láng giềng như chính sách
thương mại, đối ngoại hoà bình...
Như vậy, về mặt chức năng, thì nhà nước phong kiến thực hiện chức năng đối nội và chức năng đối ngoại phức tạp hơn rất  nhiều so với nhà nước chủ nô. Các cuộc chiến tranh giữa các nhà nước cũng nhiều hơn và có quy mô lớn hơn.

3. Bộ máy nhà nước phong kiến

Nhà nước phong kiến với hình thức chính thể quân chủ là phổ biến nên bộ máy nhà nước phong kiến luôn mang nặng tính quân sự, tập trung quan liêu gắn liền với chế độ đẳng cấp của xã hội phong kiến.
Trong bộ máy phong kiến, ở trung ương có Triều đình. Đứng đầu triều đình là vua (quốc  vương) thâu tóm gần như toàn bộ quyền lực nhà nước. Vua được coi là thay trời trị vì dân. Quyền lực của vua đôi khi còn cao hơn quyền lực của giai cấp phong kiến thống trị mà vua  là người đại diện. Vua là người ban hành pháp luật và là người tổ chức thi hành pháp luật, đồng thời là người xét xử tối cao. Các quan lại đều do vua bổ nhiệm, cắt cử. Triều đình được tổ chức để giúp vua cai quản đất nước. Bộ máy chính quyền ở địa phương cũng do vua bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước vua.
Trong thời kỳ phân quyền cát cứ, mỗi lãnh địa, các lãnh chúa đều tổ chức cho mình bộ máy riêng, lực lượng vũ trang riêng, những cơ quan giúp việc lãnh chúa quản lý các công việc trong lãnh địa.
Nhà nước phong kiến chỉ được xem là của nhà vua nên trong bộ máy nhà nước nhiều khi không có sự phân định rành mạch giữa công việc của nhà nước (phục vụ đất nước) với công việc của nhà vua (phục vụ cá nhân nhà vua).
Tóm lại, qua nội dung video, ta thấy cần nhớ những ý chính cơ bản về nhà nước phong kiến như sau:
Nhà nước Phong kiến là nhà nước xuất hiện ở cuối thời kỳ chiếm hữu nô lệ.
Về mặt bản chất, nhà nước Phong kiến có tính giai cấp và tính xã hội. Tính giai cấp thể hiện ở việc phân chia 2 giai cấp cơ bản là : Địa chủ và nông dân trong đó, giai cấp thống trị là địa chủ, giai cấp bị trị là nông dân. Tính xã hội được thể hiện ở chỗ nhà nước phong kiến cũng thực hiện các công việc chung cho toàn xã hội, để xây dựng và củng cố quyền lực cho giai cấp thống trị..
Về mặt chức năng, nhà nước phong kiến có 2 chức năng, đối nội và đối ngoại. Chức năng đối đối nội, dù là ở nhà nước phương Đông hay phương Tây đó là:
+ Bảo vệ, củng cố và phát triển phương thức sản xuất phong kiến
+ Đàn áp nông dân và những người lao động bằng những phương tiện tàn bạo.
+ Nô dịch về tư tưởng.

Chức năng đối ngoại, thể hiện ở các chính sách chiến tranh  xâm chiếm và chính sách phòng thủ quốc gia.
Về mặt bộ máy nhà nước, trong chế độ phong kiến , nhìn chung, quyền lực tối cao thuộc về nhà vua (hay Hoàng Đế), các chính sách, pháp luật đều do nhà vua (hay hoàng đế ) quyết định. Chính vì vậy, sự hưng thịnh hay suy tàn của mỗi quốc gia phong kiến phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của người đứng đầu. Chế độ phong kiến cũng có nhiều cuộc chiến tranh với độ phức tạp hơn chế độ nhà nước trước đố là nhà nước chủ nô.
Video trình bày

Tác giả bài viết: Trần Hoàng Hải

Nguồn tin: Glory education:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên hệ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây