TRUNG TÂM GIA SƯ GLORY    -    TRUNG TÂM UY TÍN TẠI HẢI PHÒNG.    ĐỊA CHỈ: NGÕ 275 ĐÔNG KHÊ, NGÔ QUYỀN, HẢI PHÒNG

Quan hệ lợi ích kinh tế trong kinh tế thị trường như thế nào?

Thứ năm - 23/06/2022 15:18
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các loại chủ kinh tế cùng tồn tại và phát triển : đó có thể là cá nhân, là tổ chức, là quốc gia, là tổ chức kinh tế quốc tế … Tuy nhiên, các chủ thể kinh tế này không tồn tại độc lập với nhau, mà chúng có mối quan hệ về lợi ích kinh tế. Mối quan hệ lợi ích kinh tế có thể thống nhất hoặc mâu thuẫn với nhau tùy theo vị trí, đặc trưng của chủ thể này đối với chủ thể kia.
Quan hệ lợi ích kinh tế (Minh họa)
Quan hệ lợi ích kinh tế (Minh họa)
1. Khái niệm quan hệ lợi ích kinh tế
 
"Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa các chủ thể kinh tế nhằm mục tiêu xác lập các loại lợi ích kinh tế trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng trong một giai đoạn phát triển xã hội nhất định"
Ta lấy ví dụ về quan hệ lợi ích kinh tế giữa chủ thể kinh tế là doanh nghiệp và chủ thể kinh tế nhà nước, ta thấy rằng: lợi ích kinh tế của doanh nghiệp gắn liền với lợi ích kinh tế của Nhà nước. Lợi ích kinh tế của doanh nghiệp là hạt nhân cấu thành lên lợi ích kinh tế của nhà nước. Mối quan hệ này được thể chế hóa thông qua quản lý của Nhà nước, thông qua pháp luật, thông qua hệ thống thuế, hay các chính sách phát triển kinh tế của chính phủ…. Lợi ích kinh tế của doanh nghiệp được đảm bảo sẽ có tác động tích cực tới lợi ích kinh tế của Nhà nước cụ thể đó là ngân sách quốc gia. Còn lợi ích kinh tế nhà nước được đảm bảo cũng sẽ tạo ra môi trường phát triển ổn định cho doanh nghiệp làm ăn.
Ở mỗi quốc gia, thì mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có sự khác biệt, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội và mục tiêu phát triển của các quốc gia đó.
- Quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có thể được biểu hiện theo chiều dọc và theo chiều ngang.
Quan hệ lợi ích kinh tế theo chiều dọc tức là giữa một tổ chức với các cá nhân trong tổ chức đó.
Ví dụ như :lợi ích kinh tế của doanh nghiệp có mối quan hệ với lợi ích kinh tế của cá nhân người lao động trong doanh nghiệp đó. Khi kợi ích kinh tế của người lao động được đảm bảo, thì là động lực tốt thúc đẩy lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.
Còn, mối quan hệ lợi ích kinh tế có thể theo chiều ngang tức là giữa các chủ thể với nhau, các cộng đồng người với nhau, giữa các tổ chức, giữa quốc gia với phần còn lại của thế giới. Ví dụ như : quan hệ lợi ích kinh tế giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, có thể là vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau; hay như, quan hệ lợi ích kinh tế giữa các địa phương với nhau ; lợi ích kinh tế giữa các quốc gia với nhau như Việt Nam với Trung quốc, với Mỹ hay với Nga….
     Tóm lại, khái niệm quan hệ lợi ích kinh tế chúng ta cần nắm được đó là sự thiết lập những tương tác giữa các chủ thể kinh tế nhằm mục tiêu xác lập các loại lợi ích kinh tế riêng, các bạn nhé !
2. Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế.
Trước hết là sự thống nhất của quan hệ lợi ích kinh tế
Mỗi chủ thể trong nền kinh tế là một bộ phận, một thành viên trong nền kinh tế thống nhất, chúng luôn tác động qua lại với nhau và xâm nhập vào nhau gắn bó chặt chẽ với nhau, thậm chí còn là bộ phận của nhau. Vì thế, thực hiện lợi ích kinh tế của chủ thể này không thể tách rời sự thực hiện lợi ích của các chủ thể khác.
Chẳng hạn nhứ, mối quan hệ lợi ích giữa người lao động với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi ích kinh tế doanh nghiệp được đảm bảo thì lợi ích người lao động càng được thực hiện tốt. Ngược lại, nếu lợi ích kinh tế của người lao động không được thực hiện tốt, có thể làm cho sức sản xuất của doanh nghiệp đi xuống, làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.
 + Ngoài sự thống nhất thì quan hệ lợi ích kinh tế còn tồn tại mâu thuẫn các bạn nhé:
Vì các chủ thể kinh tế có những lợi ích kinh tế khác nhau, nên khi chạy theo lợi ích của mình có thể gây hại cho lợi ích của chủ thể khác, cho xã hội (Ví dụ: Để tăng lợi ích kinh tế củadoanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp có thể vi phạm pháp luật
Lợi ích của các chủ thể kinh tế có quan hệ trực tiếp trong việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng có thể mâu thuẫn với nhau vì tại một thời điểm kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là đại lượng xác định. Do đó, thu nhập của chủ thể này tăng lên thì thu nhập của chủ thể khác giảm xuống. (Ví dụ: thuế giảm sẽ giúp lợi nhuận doanh nghiệp tăng ; hay như tăng lương công nhân lợi nhuận doanh nghiệp giảm…)
Khi có mâu thuẫn thì việc thực hiện lợi ích của chủ thể này có thể cản trở, thậm chí làm tổn hại đến lợi ích của các chủ thể khác. Mâu thuẫn lợi ích kinh tế là nguồn gốc của các xung đột xã hội. Do đó, nhà nước cần điều hòa mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế nhằm ổn định xã hội, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế.
Có 4 nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế như sau:
Thứ nhất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Năm 2021, mức thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam là 3.743$ trong khi đó thu nhập bình quân/người của Singapore là 66.263$, còn ở Mỹ là 69.375 $. Sự chênh lệch này nó cũng là thước đo phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia.
Từ thực tế đó, Lợi ích kinh tế phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định. Bởi vậy, phát triển lực lượng sản xuất là nhiệm vụ hàng đầu của các quốc gia hướng tới.
Nhân tố thứ hai, địa vị của các chủ thể kinh tế trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội.
Ta hình dung, trong một doanh nghiệp có nhiều chủ thể cùng tham gia, có thể là giám đốc quản lý, có thể là người công nhân làm thuê…. Do sự khác nhau về quan hệ sở hữu Tư liệu sản xuất, nên địa vị của các chủ thể kinh tếtrong doanh nghiệp là khác nhau. Kéo theo mức thu nhập (chính là lợi ích kinh tế ) của các chủ thể là khác nhau.
Nhân tố thứ ba, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước: làm thay đổi mức thu nhập và tương quan thu nhập của các chủ thể kinh tế, khi đó phương thức và mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng thay đổi, tức là lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đổi.
Ta lấy ví dụ về chính sách tiền lương tối thiểu vùng của Nhà nước chẳng hạn: Từ 1/7/2022, Nhà nước quy định các mức lương tối thiểu tháng theo 4 vùng đối với người lao động :
Vùng 1 : 4.680.000 đồng/tháng
Vùng 2 : 4.160.000 đồng/tháng
Vùng 3 : 3.640.000 đồng/tháng
Vùng 4: 3.250.000 đồng/tháng
Khi Nhà nước quy định mức lương tối thiểu theo 4 vùng khác nhau, có nghĩa rằng chính sách phân phối thu nhập của nhà nước cũng làm thay đổi mức thu nhập và tương quan thu nhập của các chủ thể kinh tế.
Các bạn có thể lấy thêm ví dụ về mức quy định thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam cũng đúng nhé.
Nhân tố thứ tư, hội nhập quốc tế cũng có tác động mạnh mẽ và nhiều chiều đến lợi ích kinh tế của các chủ thể. Khi hội nhập quốc tế, các quốc gia có thể tăng lợi ích kinh tế từ thương mại và đầu tư quốc tế nhờ xuất nhập khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế của một bộ phận các doanh nghiệp, các hộ gia đình có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài.
Mặt khác, hội nhập kinh tế giúp đất nước phát triển nhanh hơn nhưng phải đối mặt với các nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… Lợi ích kinh tế xã hội cũng có thể bị ảnh hưởng tiêu cực.
4. Một số quan hệ lợi ích cơ bản trong nền kinh tế thị trường.
Một là, quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Chúng ta thấy rằng, người lao động là người có đủ thể lực và trí lực để lao động, tức là có khả năng lao động. Khi bán sức lao động, họ sẽ nhận được tiền lương và chịu sự điều hành, quản lý của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động ở đây có thể là chủ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức…. Như vậy, lợi ích của người lao động chính là tiền lương, tiền thưởng còn lợi ích của người sử dụng lao động là lợi nhuận thu được sau quá trình sản xuất, kinh doanh. Lợi ích kinh tế của người lao động và người sử dụng lao động có quan hệ chặt chẽ, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
Sự thống nhất được thể hiện ở chỗ: trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường, người sử dụng lao động sẽ lợi nhuận, có được lợi ích kinh tế của mình. Đương nhiên, họ sẽ tiếp tục thuê lao động, người lao động tiếp tục được trả lương và có được lợi ích kinh tế của mình. Chiều ngược lại, bản thân người lao động tích cực làm việc để có lương cao thì đồng thời, góp phần làm gia tăng lợi nhuận cho người sử dụng lao động. Như vậy, lợi ích kinh tế đôi bên có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau.
Sự mâu thuẫn thể hiện ở chỗ :
Trong hoạt động kinh tế, tiền lương chính là chi phí sản xuất của người sử dụng lao động. Nên, vì lợi ích của mình, người sử dụng lao động luôn muốn cắt giảm chi phí tiền công đến mức thấp nhất có thể. Còn, người lao động cũng vì lợi ích của mình sẽ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm… Nếu mâu thuẫn không được giải quyết hợp lý sẽ ảnh hưởng xấu tới các hoạt động kinh tế. Để bảo vệ lợi ích của mình, người lao động thành lập công đoàn, người sử dụng lao động thành lập các nghiệp đoàn, hội nghề nghiệp… Đấu tranh giữa các bên cần tuân thủ các quy định của pháp luật.
Hai là, quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động. Trong cơ chế thị trường những người sử dụng lao động vừa là đối tác vừa là đối thủ của nhau, từ đó tạo ra sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa họ. Trong cơ chế thị trường do chạy theo lợi ích kinh tế của mình nên những người sử dụng lao động cạnh tranh với nhau rất quyết liệt, dẫn đến hiện tượng có doanh nghiệp phá sản, có doanh nghiệp phát triển, thường xuyên diễn ra.
Ba là, quan hệ lợi ích giữa những người lao động. Trong kinh tế thị trường người lao động phải bán sức lao động của mình, vì thế họ phải cạnh tranh với nhau dẫn đến tiền lương của họ giảm xuống, thậm chí có một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Nếu họ thống nhất được với nhau, họ có thể thực hiện được yêu sách của mình (ở một chừng mực nhất định) đối với người sử dụng lao động. Vì thế, để hạn chế những mâu thuẫn lợi ích kinh tế trong nội bộ và bảo vệ được lợi ích của mình, những người lao động thành lập những tổ chức riêng trên cơ sở những quy định của pháp luật. Ví dụ như : công đoàn chẳng hạn.
Bốn là, quan hệ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích xã hội. Trong kinh tế thị trường mỗi chủ thể kinh tế đều có lợi ích cá nhân, nhưng đều là bộ phận cấu thành xã hội nên đều có quan hệ chặt chẽ với lợi ích của xã hội. Khi các chủ thể thực hiện lợi ích cá nhân đúng theo các quy định của pháp luật thì họ góp phần phát triển nền kinh tế, thực hiện lợi ích kinh tế của xã hội.
Khi lợi ích kinh tế của xã hội được thực hiện (xã hội phát triển) sẽ tạo lập môi trường thuận lợi cho cá nhân thực hiện tốt hơn các lợi ích kinh tế của mình. Ngược lại, nếu cá nhân chỉ chạy theo lợi ích kinh tế của mình, xâm phạm vào lợi ích kinh tế của xã hội (làm hàng giả, trốn thuế…) sẽ làm cho nền kinh tế phát triển chậm, chất lượng cuộc sống giảm… từ đó ảnh hưởng xấu đến lợi ích kinh tế của các chủ thể.
Khi các cá nhân, tổ chức hoạt động trong cùng ngành, cùng lĩnh vực… nhưng có mối liên hệ với nhau, liên kết với nhau sẽ hình thành nên « lợi ích nhóm ». Ví dụ : Các hãng xe khách sẽ liên kết với nhau, để đưa ra mức giá thống nhất, từ đó tạo thành lợi ích nhóm.

 « Lợi ích nhóm » hay « nhóm lợi ích » nếu phù hợp với lợi ích quốc gia, không gây tổn hại đến các lợi ích khác thì cần được tạo điều kiện; ngược lại, khi chúng mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, làm tổn hại các lợi ích khác thì cần phải ngăn chặn.

 Trong thực tế, « lợi ích nhóm » và « nhóm lợi ích » nếu có sự tham gia của công chức, viên chức hoặc các cơ quan công quyền nhiều khả năng mang tính tiêu cực vì quyền lực nhà nước sẽ bị lạm dụng và phục vụ cho lợi ích cá nhân.
Ví dụ : xử lý vấn đề : lợi ích nhóm trong mua sắm trang thiết bị, sinh phẩm phòng chống COVID-19 ở Việt Nam.
Vì vậy, việc chống « lợi ích nhóm » tiêu cực vô cùng khó khăn, nó đòi hỏi phải được thực hiện quyết liệt và thường xuyên.
 5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu.
Mặc dù có nhiều quan hệ lợi ích đan xen, tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có hai phương thức cơ bản để thực hiện lợi ích kinh tế gồm :
Thứ nhất, thực hiện lợi ích kinh tế theo nguyên tắc thị trường. Ví dụ : phân phối thu nhập theo lao động, theo hiệu quả sản xuất …
Đây là phương thức phổ biến trong mọi nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, thực hiện lợi ích kinh tế theo chính sách của nhà nước và vai trò của các tổ chức xã hội nhằm tạo sự bình đẳng và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Ví dụ : các chính sách điều tiết thu nhập của chính phủ như : thuế thu nhập, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ….
Sở dĩ phải có nguyên tắc thứ hai này là vì nếu chỉ căn cứ theo nguyên tắc thị trường, sẽ dẫn đến những hạn chế về mặt xã hội như : bất bình đẳng thu nhập, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh …
Các bạn thân mến, trên đây là toàn bộ nội dung cơ bản về vấn đề quan hệ lợi ích kinh tế. Vấn đề quan hệ lợi ích kinh tế có thể tóm lược lại 5 nội dung chính :
1. Khái niệm quan hệ lợi ích kinh tế
2. Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế.
4. Một số quan hệ lợi ích cơ bản trong nền kinh tế thị trường.
5. Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế trong các quan hệ lợi ích chủ yếu.

Tác giả bài viết: Trần Hoàng Hải

Nguồn tin: Glory education

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên hệ
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây